Câu hỏi đặt
ra là Việt Nam có thể hy vọng thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa
bằng ĐTNN không? Kết quả đạt được cho đến nay cho phép trả lời là không
thể công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại chỉ trông chờ vào ĐTNN
mà không phát triển những doanh nghiệp dân tộc, có thương hiệu cạnh
tranh trên thị trường thế giới, làm biểu tượng cho đất nước Việt Nam. Đã
đến lúc phải cân đối lại giữa chính sách thu hút ĐTNN bằng mọi giá
trong khi không coi trọng phát triển các doanh nghiệp dân tộc của Việt
Nam.
http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/ykien/100989/Dau-tu-nuoc-ngoai-va-doanh-nghiep-dan-toc.html
Chủ Nhật, 18 tháng 8, 2013
Hai mặt của FDI
hống kê
của ông Phan Hữu Thắng cho biết vốn FDI tăng nhanh và chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng vốn đầu tư xã hội qua các thời kỳ: từ 26,6 tỉ đô la Mỹ,
chiếm 24,4% tổng vốn đầu tư xã hội giai đoạn 1991-2000; lên 69,5 tỉ đô
la, chiếm 22,7% tổng vốn đầu tư xã hội giai đoạn 2001-2011. Tỷ trọng
đóng góp của FDI trong GDP tăng từ 2% năm 1992 lên 10,7% năm 2000, 16,9%
năm 2006, 18,9% năm 2011. Bất kể ở góc độ nào, thì luồng vốn FDI cũng
đang có xu thế mở rộng và dần lấn át doanh nghiệp trong nước.
Câu hỏi đặt ra, xu thế này có tốt hay không? Hầu hết các chuyên gia mà Thời báo Kinh tế Sài Gòn có cơ hội trao đổi đều khẳng định là xu thế tích cực. Ông Lê Xuân Nghĩa giải thích: “Tác động của FDI rất quan trọng, đặc biệt là qua hai lần khủng hoảng năm 1997 và 2008 vừa rồi. Khu vực FDI đã giúp nền kinh tế duy trì tăng trưởng, dù ở mức thấp, trong cả hai lần khủng hoảng này”.
http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/sotay/100990/Hai-mat-cua-FDI.html
Câu hỏi đặt ra, xu thế này có tốt hay không? Hầu hết các chuyên gia mà Thời báo Kinh tế Sài Gòn có cơ hội trao đổi đều khẳng định là xu thế tích cực. Ông Lê Xuân Nghĩa giải thích: “Tác động của FDI rất quan trọng, đặc biệt là qua hai lần khủng hoảng năm 1997 và 2008 vừa rồi. Khu vực FDI đã giúp nền kinh tế duy trì tăng trưởng, dù ở mức thấp, trong cả hai lần khủng hoảng này”.
http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/sotay/100990/Hai-mat-cua-FDI.html
Tích cực và tiêu cực của FDI
Ở phía ngược lại chưa có thống kê nào cho thấy số doanh nghiệp Việt Nam
xuất khẩu triệu đô trở lên như vậy cỡ bao nhiêu. Hoặc sức lan tỏa của
các doanh nghiệp FDI triệu đô đến đâu khi nhiều mặt hàng, ví dụ như sản
phẩm điện tử linh kiện của khối FDI tăng đến 67,5% nhưng chỉ số tồn kho
của ngành công nghiệp sản xuất dây, cáp điện và dây dẫn điện tử (mang
tính phụ trợ cho nhiều sản phẩm điện tử) của các doanh nghiệp Việt tăng
đến gần 50% so với cùng kỳ.
Doanh nghiệp FDI đầu tư vào Việt Nam luôn được chào đón. Và những ưu đãi đầu tư thể hiện sự chào đón đó có lẽ đã được các cơ quan quản lý tính toán cân nhắc sự được mất để đổi lại sự có mặt của các dự án FDI trong những thời điểm cụ thể vừa qwww.thesaigontimes.vn/Home/diendan/sotay/100991/Hai-dong-chay-song-hanh.htmlua.
Doanh nghiệp FDI đầu tư vào Việt Nam luôn được chào đón. Và những ưu đãi đầu tư thể hiện sự chào đón đó có lẽ đã được các cơ quan quản lý tính toán cân nhắc sự được mất để đổi lại sự có mặt của các dự án FDI trong những thời điểm cụ thể vừa qwww.thesaigontimes.vn/Home/diendan/sotay/100991/Hai-dong-chay-song-hanh.htmlua.
Thứ Sáu, 9 tháng 8, 2013
Ban điều phối ngành hàng ca phê
http://www.thesaigontimes.vn/Home/nongsan/tintucthitruong/100713/Dieu-hanh-ca-phe-cung-phai-hoc.html
Một chuyên gia cà phê phân tích sự thiếu liên kết cả chuỗi ngành hàng từ trồng, chế biến, xuất khẩu dẫn tới khâu tiếp thị, thông tin thị trường kém, nông dân thì thiếu vốn, nhà máy chế biến hay nhà xuất khẩu thì có sản phẩm cà phê có giá trị gia tăng thấp. Ông than thở: “Chừng nào mà nông dân còn phơi cà phê tươi trên sân đất nhà mình, không biết vay vốn ở đâu, bán cà phê cho ai trước khi thu hoạch, doanh nghiệp xuất khẩu thì bán 1 lô hàng cà phê phải mua gom từ hàng chục đại lý thì chừng đó ngành cà phê còn lận đận”.
Do vậy, các chuyên gia đã kiến nghị thành lập Ban điều phối ngành hàng cà phê Việt Nam theo hướng liên kết cả chuỗi
ngành hàng cà phê, từ nhà nông, hội nông dân, nhà doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, nhà khoa học, các cơ quan quản lý, cơ quan khuyến nông… Đặc biệt tổ chức này đảm nhiệm luôn quỹ bảo hiểm cà phê, nếu nó ra đời. Tổ chức này đảm nhận việc hoạch định chính sách cho cà phê, cung cấp thông tin thị trường, chiến lược trồng, chế biến, thương mại cà phê trong nước, xuất khẩu và thông qua ngân sách hàng năm cho quỹ phát triển cà phê.
Một chuyên gia cà phê phân tích sự thiếu liên kết cả chuỗi ngành hàng từ trồng, chế biến, xuất khẩu dẫn tới khâu tiếp thị, thông tin thị trường kém, nông dân thì thiếu vốn, nhà máy chế biến hay nhà xuất khẩu thì có sản phẩm cà phê có giá trị gia tăng thấp. Ông than thở: “Chừng nào mà nông dân còn phơi cà phê tươi trên sân đất nhà mình, không biết vay vốn ở đâu, bán cà phê cho ai trước khi thu hoạch, doanh nghiệp xuất khẩu thì bán 1 lô hàng cà phê phải mua gom từ hàng chục đại lý thì chừng đó ngành cà phê còn lận đận”.
Do vậy, các chuyên gia đã kiến nghị thành lập Ban điều phối ngành hàng cà phê Việt Nam theo hướng liên kết cả chuỗi
Nông dân tham gia Ban điều phối
Trưởng ban Điều phối ngành hàng Cà phê Việt Nam sẽ do ông Lê Quốc Doanh, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT đảm nhiệm, cùng với đó là 12 ủy viên là đại diện thuộc các đơn vị liên quan từ các đơn vị liên quan tại Bộ NN-PTNT, các địa phương, hiệp hội, tổ chức và người sản xuất, chế biến, tiêu thụ cà phê Việt Nam. |
ngành hàng cà phê, từ nhà nông, hội nông dân, nhà doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, nhà khoa học, các cơ quan quản lý, cơ quan khuyến nông… Đặc biệt tổ chức này đảm nhiệm luôn quỹ bảo hiểm cà phê, nếu nó ra đời. Tổ chức này đảm nhận việc hoạch định chính sách cho cà phê, cung cấp thông tin thị trường, chiến lược trồng, chế biến, thương mại cà phê trong nước, xuất khẩu và thông qua ngân sách hàng năm cho quỹ phát triển cà phê.
Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013
Phát triển bền vững SME
Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) vừa công bố
kết quả điều tra, khảo sát đối với 2.449 doanh nghiệp nhỏ và vừa tại 10
tỉnh, thành phố lớn trên cả nước, trong đó có Hà Nội, Tp.HCM, Hải Phòng,
Quảng Nam, Khánh Hòa, Lâm Đồng…
Hối lộ, “né” thuế, phá sản...
Báo cáo chỉ ra rằng, các doanh nghiệp gia đình, hộ gia đình không đóng góp nhiều cho hệ thống thuế. Hầu hết doanh nghiệp không đóng thuế là doanh nghiệp hộ gia đình phi chính thức. Tính phi chính thức và thuế có mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động hối lộ, tham nhũng và là các nhân tố chính trong môi trường kinh doanh của một số quốc gia.
Theo khảo sát, 34% số doanh nghiệp có các khoản chi phí phi chính thức trong năm 2009 và con số này tăng lên 38% trong năm 2011. Gần 26% các khoản chi phi chính thức có liên quan đến các dịch vụ công (tăng lên so với tỷ lệ 20% trong năm 2009). Điều này cho thấy, số doanh nghiệp hối lộ đã tăng lên đáng kể.
Như vậy, kết quả báo cáo này cũng tương đối trùng với khảo sát về tham nhũng dưới góc nhìn của người dân, doanh nghiệp, cán bộ công chức, viên chức vừa được Thanh tra Chính phủ và Ngân hàng Thế giới (WB) công bố hôm 20/11. Theo đó, nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện nay vẫn phải chi các khoản phi chính thức “để được việc”.
Tuy nhiên, báo cáo này đã đưa ra một phát hiện bất ngờ: doanh nghiệp chi hối lộ không mở rộng lực lượng lao động của mình nhiều hơn so với các doanh nghiệp không chi hối lộ. Song song, các doanh nghiệp chi hối lộ cũng có xác suất “thoát” khỏi thị trường cao hơn (3%).
Nhận định về phát hiện này, TS. Phạm Thị Thu Hằng (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI) đặt câu hỏi: “Phải chăng, hàm ý ở đây là những doanh nghiệp làm ăn không bài bản, có vẻ như sẽ quan tâm nhiều hơn đến việc phải bỏ ra các chi phí không chính thức? Ngược lại, các doanh nghiệp làm ăn chân chính cũng vẫn có thể phát triển bình thường”.
Làm rõ thêm cho hiện tượng này, GS. John Rand, Cơ quan Hợp tác Phát triển Đan Mạch nói, “mức độ chính thức hóa của doanh nghiệp tăng lên thì nguồn thu thuế cũng sẽ tăng lên, nhưng một số doanh nghiệp đã trả phí phi chính thức cho cơ quan thuế để trốn thuế”.
Ít cải tiến sản phẩm
Trong tổng số 2.508 doanh nghiệp được triển khai điều tra năm 2009, có khoảng 20% đã đóng cửa sau hai năm sau. Theo TS. Phạm Thị Thu Hằng, kết quả điều tra cũng chỉ ra một thực tế là các doanh nghiệp nhỏ và vừa có xác suất thoát khỏi thị trường thấp hơn các doanh nghiệp siêu nhỏ.
Bên cạnh đó, có tới 40% (800/1.998 doanh nghiệp) cho biết không cải tiến sản phẩm hiện tại trong 4 năm được nghiên cứu.
Theo TS. Hằng, khi thị trường của các doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ yếu là thị trường nội địa và vấn nạn hàng nhập lậu vẫn còn nhức nhối, thì việc cải tiến sản phẩm chiếm lĩnh thị trường là vô cùng quan trọng. Nếu xu hướng này tiếp tục kéo dài thì rất có thể, thêm nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ phải sớm rút lui khỏi thị trường.
Thực tế cho thấy, trong 9 tháng năm 2012, trước tình hình sản xuất, kinh doanh gặp nhiều khó khăn, đã có trên 42.000 doanh nghiệp phải dừng hoạt động và giải thể.
Về vấn đề tiếp cận tín dụng, điều tra cho thấy, nhu cầu tín dụng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn rất cao, trong khi các rào cản tín dụng đối với khối doanh nghiệp này chưa được cải thiện nhiều. Điều tra cho thấy, hiện gần 39% doanh nghiệp có thể được coi là gặp khó khăn về tín dụng.
Hối lộ, “né” thuế, phá sản...
Báo cáo chỉ ra rằng, các doanh nghiệp gia đình, hộ gia đình không đóng góp nhiều cho hệ thống thuế. Hầu hết doanh nghiệp không đóng thuế là doanh nghiệp hộ gia đình phi chính thức. Tính phi chính thức và thuế có mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động hối lộ, tham nhũng và là các nhân tố chính trong môi trường kinh doanh của một số quốc gia.
Theo khảo sát, 34% số doanh nghiệp có các khoản chi phí phi chính thức trong năm 2009 và con số này tăng lên 38% trong năm 2011. Gần 26% các khoản chi phi chính thức có liên quan đến các dịch vụ công (tăng lên so với tỷ lệ 20% trong năm 2009). Điều này cho thấy, số doanh nghiệp hối lộ đã tăng lên đáng kể.
Như vậy, kết quả báo cáo này cũng tương đối trùng với khảo sát về tham nhũng dưới góc nhìn của người dân, doanh nghiệp, cán bộ công chức, viên chức vừa được Thanh tra Chính phủ và Ngân hàng Thế giới (WB) công bố hôm 20/11. Theo đó, nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện nay vẫn phải chi các khoản phi chính thức “để được việc”.
Tuy nhiên, báo cáo này đã đưa ra một phát hiện bất ngờ: doanh nghiệp chi hối lộ không mở rộng lực lượng lao động của mình nhiều hơn so với các doanh nghiệp không chi hối lộ. Song song, các doanh nghiệp chi hối lộ cũng có xác suất “thoát” khỏi thị trường cao hơn (3%).
Nhận định về phát hiện này, TS. Phạm Thị Thu Hằng (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI) đặt câu hỏi: “Phải chăng, hàm ý ở đây là những doanh nghiệp làm ăn không bài bản, có vẻ như sẽ quan tâm nhiều hơn đến việc phải bỏ ra các chi phí không chính thức? Ngược lại, các doanh nghiệp làm ăn chân chính cũng vẫn có thể phát triển bình thường”.
Làm rõ thêm cho hiện tượng này, GS. John Rand, Cơ quan Hợp tác Phát triển Đan Mạch nói, “mức độ chính thức hóa của doanh nghiệp tăng lên thì nguồn thu thuế cũng sẽ tăng lên, nhưng một số doanh nghiệp đã trả phí phi chính thức cho cơ quan thuế để trốn thuế”.
Ít cải tiến sản phẩm
Trong tổng số 2.508 doanh nghiệp được triển khai điều tra năm 2009, có khoảng 20% đã đóng cửa sau hai năm sau. Theo TS. Phạm Thị Thu Hằng, kết quả điều tra cũng chỉ ra một thực tế là các doanh nghiệp nhỏ và vừa có xác suất thoát khỏi thị trường thấp hơn các doanh nghiệp siêu nhỏ.
Bên cạnh đó, có tới 40% (800/1.998 doanh nghiệp) cho biết không cải tiến sản phẩm hiện tại trong 4 năm được nghiên cứu.
Theo TS. Hằng, khi thị trường của các doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ yếu là thị trường nội địa và vấn nạn hàng nhập lậu vẫn còn nhức nhối, thì việc cải tiến sản phẩm chiếm lĩnh thị trường là vô cùng quan trọng. Nếu xu hướng này tiếp tục kéo dài thì rất có thể, thêm nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ phải sớm rút lui khỏi thị trường.
Thực tế cho thấy, trong 9 tháng năm 2012, trước tình hình sản xuất, kinh doanh gặp nhiều khó khăn, đã có trên 42.000 doanh nghiệp phải dừng hoạt động và giải thể.
Về vấn đề tiếp cận tín dụng, điều tra cho thấy, nhu cầu tín dụng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn rất cao, trong khi các rào cản tín dụng đối với khối doanh nghiệp này chưa được cải thiện nhiều. Điều tra cho thấy, hiện gần 39% doanh nghiệp có thể được coi là gặp khó khăn về tín dụng.
Thứ Ba, 30 tháng 7, 2013
cải cách thể chế chính trị ở Trung Quốc
Ngày càng có nhiều người tin rằng, sẽ sớm
diễn ra cải cách chính trị tại Trung Quốc sau những phát biểu gần đây của các
nhân vật cấp cao trong giới lãnh đạo đất nước này.
Tín hiệu quan trọng
Thực ra, lời kêu gọi cải cách chính trị của Thủ
tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo tại Thâm Quyến ngày 22.8 chỉ là sự nhấn mạnh và
chính thức phát tín hiệu cải cách thể chế chính trị cho toàn dân nước này. Theo
Tân Hoa xã ngày 5.3.2010, trong báo cáo công tác chính phủ tại Bắc Kinh, ông Ôn
Gia Bảo từng nêu rõ: “Cải cách Trung Quốc là cải cách toàn diện, bao gồm thể chế
kinh tế, thể chế chính trị và nhiều lĩnh vực khác. Nếu không có cải cách chính
trị thì việc cải cách thể chế kinh tế và hiện đại hóa không thể thành công”. Cải
cách thể chế chính trị ít nhiều đã được đề cập trong báo cáo thường niên về công
tác chính phủ, nhưng về cơ bản được diễn đạt thành “tích cực phát triển ổn
định”. Theo phân tích của các chuyên gia nước này, báo cáo công tác Chính phủ
Trung Quốc năm 2010 đã đưa ra một tín hiệu quan trọng nhằm thúc đẩy cải cách
chính trị.
Trước khi có lời kêu gọi của ông Ôn Gia Bảo, dư
luận trong và ngoài nước đã rất chú ý đến bài viết của trung tướng Lưu Á Châu
đăng trên tạp chí Phoenix của Hồng Kông (báo Sydney Morning Herald của Úc dẫn
lại vào ngày 12.8). Trong bài viết, tướng Lưu kêu gọi nhanh chóng thay đổi mô
hình thể chế tại Trung Quốc. “Một hệ thống không cho người dân được thở không
khí tự do và phát huy sức sáng tạo đến mức cao nhất, một hệ thống không lựa chọn
những người tốt nhất làm đại diện cho chế độ và nhân dân để đưa vào các vị trí
lãnh đạo, hệ thống ấy sẽ đi đến diệt vong”, ông viết. Ông Lưu cũng cho rằng
Trung Quốc không thể chỉ dựa vào sức mạnh kinh tế mà vươn lên được: “Một quốc
gia chỉ chăm chăm vào sức mạnh đồng tiền thì chỉ là một quốc gia chậm tiến và
ngu dốt”. Cuối cùng, ông kết luận: “Trong 10 năm tới, sẽ không thể tránh khỏi
một sự chuyển đổi từ chính trị quyền lực sang dân chủ”.
Những ý kiến của tướng Lưu khiến dư luận rất quan
tâm vì vị thế của ông trong hệ thống chính trị ở Trung Quốc. Sinh năm 1952, ông
từng là Phó chính ủy bộ đội không quân Trung Quốc và vừa được thăng lên Chính ủy
Học viện Quốc phòng. Ông còn là con rể của cố Chủ tịch Lý Tiên Niệm, một trong
“Bát đại nguyên lão” của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Mặt khác, nền kinh tế phát triển quá nhanh của
Trung Quốc đã dẫn tới nhiều hệ lụy như khoảng cách giàu nghèo chênh lệch khủng
khiếp, xu hướng chạy theo lợi nhuận bất chấp hậu quả dẫn tới nhiều vụ sữa bẩn,
sập hầm mỏ, môi trường bị xâm hại, người dân bất mãn chính quyền... Vì thế việc
tìm kiếm chiếc áo mới rộng hơn cùng chế độ quản lý phù hợp là một yêu cầu cấp
bách của quốc gia đông dân nhất thế giới.
Nỗ lực may áo mới
Tại phiên họp thứ 3 Đại hội đại biểu nhân dân
toàn quốc khóa 11 khai mạc ngày 5.3.2010, ông Ôn Gia Bảo thừa nhận cơ chế quản
lý còn tồn tại rất nhiều vấn đề, bao gồm việc chính quyền can thiệp quá nhiều
vào nền kinh tế vi mô, quản lý xã hội và phục vụ cộng đồng còn yếu; ý thức tuân
thủ pháp luật của một số cán bộ còn rất kém; một số lãnh đạo xa rời quần chúng,
xa rời hiện thực, hình thức chủ nghĩa, quan liêu trầm trọng; nhiều tệ nạn hủ bại
xảy ra trong một số lĩnh vực.
Để có được “chiếc áo mới” như ý muốn, ông Ôn Gia
Bảo trước mắt đã đưa ra 5 phương pháp: thúc đẩy xây dựng chính quyền theo kiểu
phục vụ, duy trì xã hội công bằng; coi trọng hơn việc phục vụ quần chúng và quản
lý xã hội; thúc đẩy cải cách thể chế quản lý xã hội và sáng tạo cái mới, điều
chỉnh hợp lý quan hệ lợi ích xã hội; nỗ lực nâng cao lòng tin của dân chúng;
khoa học hóa, dân chủ hóa quyết sách và đẩy nhanh xây dựng hệ thống thực thi,
giám sát lẫn nhau, cùng điều chỉnh cơ chế vận hành hành chính; phải coi trọng
việc dẹp bỏ các tệ nạn hủ bại.
Ông Vu Phối - Giám đốc Phòng nghiên cứu Sử thế
giới thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc - nhận xét, việc đề ra 5 phương pháp
trên khiến việc cải cách chính trị được cụ thể hóa, trực tiếp đối diện với vấn
đề mà dân chúng quan tâm như thay đổi thể chế doanh nghiệp, thu hồi và đền bù
đất đai, bảo vệ môi trường, tranh chấp về lao động, khiếu kiện của dân, an toàn
sản xuất, vệ sinh an toàn thực phẩm... Ông Vu kết luận: “Mục tiêu cải cách cần
nhắm đúng vào những vấn đề thiết thực mà dân chúng quan tâm, mới có thể bảo đảm
quan hệ hòa hợp giữa chính quyền và người dân”.
Thủ tướng Ôn Gia Bảo cũng tuyên bố cần đảm bảo
quyền của người dân, đặc biệt là quyền bầu cử, quyền được biết thông tin, quyền
tham gia, quyền diễn đạt, quyền giám sát. Đồng thời, báo cáo tại phiên họp thứ 3
Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa 11 cũng nêu rõ, cán bộ lãnh đạo - đặc
biệt là cán bộ cấp cao - cần thực hiện những quy định quan trọng như báo cáo tài
sản và kinh tế cá nhân, bao gồm thu nhập, nhà ở, đầu tư cùng công việc của vợ
con; tự giác phối hợp, chấp thuận sự kiểm soát của các ban thẩm tra. Ông Tôn
Đoạn Nghiệp - Phó ban Giám sát tỉnh Sơn Đông cho rằng, từ nay về sau người dân
Trung Quốc sẽ tích cực đẩy mạnh việc giám sát trên cơ sở lời hứa “tạo điều kiện”
để dân phê bình, giám sát chính quyền. Điều này hứa hẹn nhiều hình thức mới mẻ
về giám sát dân chủ sẽ xuất hiện tại đại lục.
điều cần là chất lượng tín dụng, chứ không phải con số tăng trưởng nhiều hay ít
(TBKTSG) - Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang ngày càng tỏ rõ quyết tâm
trong việc thực hiện chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng 12% cho năm 2013, khi
các văn bản chỉ đạo, điều hành liên quan đến vấn đề này mỗi ngày một
“nặng ký” hơn.
Hồi đầu năm, con số 12% chỉ có ý nghĩa định hướng. Rồi cách nay hơn nửa
tháng, trong báo cáo sơ kết sáu tháng đầu năm, chỉ tiêu định hướng đó
đã được NHNN nâng lên thành “phấn đấu tăng trưởng tín dụng 12%”. Và, đến
ngày 18-7 vừa qua, Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình đã ban hành Chỉ thị
03, trong đó yêu cầu các tổ chức tín dụng “thực hiện các giải pháp mở
rộng tín dụng có hiệu quả để đạt tốc độ tăng trưởng tín dụng toàn hệ
thống ở mức 12%...”.Theo quan điểm của NHNN, làm tốt mục tiêu tăng trưởng tín dụng (12%) mới mong bảo đảm kinh tế phát triển 5-5,5%. Nhưng nhu cầu tín dụng lại không phụ thuộc vào các mong muốn chủ quan, mà tùy vào sức khỏe của nền kinh tế, cụ thể hơn là sức khỏe của doanh nghiệp. Nếu các doanh nghiệp quá ốm yếu, không đủ sức hấp thu thêm vốn, nhưng NHNN vẫn quyết tâm phải tăng được mức tăng trưởng tín dụng, thì e là không ổn.
Trong sáu tháng đầu năm nay, tăng trưởng tín dụng của Việt Nam chỉ đạt 4,5%, bất kể lãi suất cho vay đã lùi về quanh mức 10-12%/năm. Đồng thời, nhiều ngân hàng và tổ chức tài chính thậm chí phải cho nhân viên gọi điện thoại, xuống đường phát tờ rơi để mời người vay vốn với thủ tục rất đơn giản và thuận lợi. Điều đó cho thấy, lực cầu tín dụng của cả doanh nghiệp và người dân đang rất yếu.
Bình luận về mục tiêu tăng trưởng tín dụng của NHNN cho năm nay, một số chuyên gia kinh tế cho rằng về mặt kỹ thuật thì chỉ tiêu 12% hay 15% không khó thực hiện. Nhưng với khả năng hấp thu vốn của nền kinh tế rất yếu như hiện nay cũng như dự báo về khả năng cải thiện trong những tháng cuối năm, thực hiện chỉ tiêu trên là rất khó.
Hai chữ “kỹ thuật” mà các chuyên gia kinh tế nhắc tới cũng chính là điều họ không mong muốn. Hiện nay, Chính phủ đang trở thành khách hàng lớn của các tổ chức tín dụng. Chỉ cần Chính phủ tăng cường đầu tư, chi tiêu hoặc nới lỏng việc kiểm soát đầu tư cho khối doanh nghiệp nhà nước, cho lĩnh vực đầu tư chứng khoán, bất động sản thì chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng 12%, thậm chí là 20%, cũng dễ dàng. Nhưng nếu số tín dụng tăng thêm đó không được sử dụng hiệu quả, lại chảy vào những lĩnh vực có nguy cơ “bong bóng”, vào những dự án kém hiệu quả, thì sẽ là mối nguy cho cả nền kinh tế.
Thiết nghĩ, với vai trò và trách nhiệm của mình, vấn đề NHNN cần quan tâm không phải ở con số phần trăm tăng trưởng tín dụng. Điều cả nền kinh tế kỳ vọng ở NHNN là năng lực quản lý rủi ro để bảo đảm hệ thống tài chính, ngân hàng hoạt động một cách lành mạnh, an toàn và hiệu quả; có thể đưa ra quyết định điều hành để có thể hóa giải kịp thời những nguy cơ, tháo gỡ nhanh chóng những nút thắt cho nền kinh tế, để doanh nghiệp yên tâm làm ăn, để nền kinh tế phát triển bền vững.
Vấn đề NHNN cần ưu tiên giải quyết hiện nay vẫn là nợ xấu trong các ngân hàng và điều cần là một kết quả thực chất, chứ không phải kết quả đến từ những biện pháp “kỹ thuật”.
Một khi NHNN đã làm tốt vai trò của mình, thì hãy cứ để con số tăng trưởng tín dụng cho thị trường tự điều chỉnh. Vì cho dù mức tăng trưởng tín dụng cao, nhưng nếu tất cả số vốn đó đều chảy vào những kênh đầu tư an toàn và có hiệu quả cho nền kinh tế, thì chẳng có gì phải lo ngại. Ngược lại, cho dù tăng ít, nhưng lại tăng vào các lĩnh vực có nguy cơ “bong bóng”, vào những dự án kém hiệu quả, thì rất nguy hiểm.
Suy cho cùng, điều cần là chất lượng tín dụng, chứ không phải con số tăng trưởng nhiều hay ít.http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/goctoasoan/99897/Chat-luong-tin-dung-moi-quan-trong!.html
Thứ Hai, 29 tháng 7, 2013
Tập đoàn, tổng công ty nhà nước kinh doanh giảm sút
Kết quả cho thấy có 4/27 tập đoàn, tổng công ty nhà nước và một số công ty con
thuộc các đơn vị này thua lỗ (Petrolimex lỗ 1.671 tỉ đồng, Cienco 8 lỗ gần 138
tỉ đồng, Vinaincon lỗ 20 tỉ đồng, Mipeco lỗ 17,1 tỉ đồng, Tổng công ty Thành An
lỗ 1,68 tỉ đồng...).http://www.thesaigontimes.vn/Home/doanhnghiep/quantri/99940/Tap-doan-tong-cong-ty-nha-nuoc-kinh-doanh-giam-sut.html
Thứ Năm, 25 tháng 7, 2013
xóa xổ tiền gửi ngoại tệ, tiến tới doanh nghiệp gửi ngoại tệ tại Ngân hàng sẽ không có lãi suất.
Trân chiến giữa các nhóm kinh doanh tài chính?
Tại hội thảo “Nhìn lại triển vọng TTCK Việt Nam 2013: Tín hiệu từ các chính sách vĩ mô” do CTCP Chứng khoán Bảo Việt tổ chức, TS Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia, Thành viên Ban tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ cho rằng, trong nửa cuối năm 2013, tác động lớn nhất đến nền kinh tế Việt Nam là đầu tư trực tiếp nước ngoài, đặc biệt là dòng vốn từ phía nhà đầu tư Nhật Bản, điều này sẽ giúp Việt Nam có nhịp tăng tương đối ổn định.
Thứ hai là hoạt động mua bán sáp nhập sẽ tăng lên và được tính vào đầu tư gián tiếp vào TTCK, và theo ông Nghĩa, dòng vốn trên thị trường này sẽ không kém thị trường chính thức.
Lý giải việc tỷ giá tăng vọt trong tháng 6 đầu tháng 7/2013, theo TS Nghĩa đó là do hoạt động dịch chuyển tài sản của các NHTM. Các NHTM mua USD khiến dư thừa lượng ngoại tệ rất lớn. Dự trữ ngoại tệ tại NHTM đã tăng từ 350 triệu USD trong tháng 3/2013 lên tới 450 triệu USD vào tháng 6/2013.
Và theo ông nghĩa, các NHTM đã gửi ra nước ngoài khoảng 2,5 tỷ USD tính đến hết tháng 6/2013. Mặc dù lãi suất gửi thấp hơn cả lãi suất cho vay ODA nhưng các NHTM kỳ vọng về việc tăng 2% tỷ giá hối đoái, do đó mức tiền gửi của họ sẽ cao hơn mức huy động của cá nhân và doanh nghiệp. Điều này đã khiến dòng ngoại tệ từ thị trường vào ngân hàng và ra nước ngoài thông qua chênh lệch lãi suất, chứ không phải do nhập khẩu gần đây tăng lên.
Theo ông Nghĩa, việc làm này đã khiến đầu cơ tỷ giá hối đoái là nghiệp vụ đầu cơ lớn cho các NHTM, trước đây đầu cơ tỷ giá hối đoái chỉ mang lại khoảng 10% lợi nhuận cho các ngân hàng thì trong 6 tháng đầu năm 2013 con số này lên tới 30%.
Khi giao dịch trên thị trường ngoại tệ hoàn toàn bằng mua bán, tiền gửi ngoại tệ dân cư tăng tới 17%, tiền gửi ngoại tệ doanh nghiệp tăng tới 9% trong 6 tháng đầu năm 2013. Điều này hàm ý rằng những người gửi tiền đã mua USD để gửi chứ không gửi bằng tiền đồng. Nhưng tác động của việc này không lớn bằng việc chuyển dịch tài sản của các NHTM.
Theo ông Nghĩa, trong “cuộc chiến” chống đôla hóa, chúng ta đã có bước đầu hạn chế cho vay ngoại tệ, rất có thể thời gian tới sẽ tăng dự trữ bắt buộc của ngoại tệ, giới hạn lượng nắm giữ ngoại tệ của NHTM từ +_20% có thể xuống +_10 vốn tự có; thậm chí trong tương lại có thể xóa xổ tiền gửi ngoại tệ, tiến tới doanh nghiệp gửi ngoại tệ tại Ngân hàng sẽ không có lãi suất.
http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/ts-le-xuan-nghia-cac-nhtm-gui-25-ty-usd-ra-nuoc-ngoai-2013072513582075018ca34.chn
Trước đây đầu cơ tỷ giá hối đoái chỉ mang lại khoảng 10% lợi nhuận cho các ngân hàng thì trong 6 tháng đầu năm 2013 con số này lên tới 30%.
Tại hội thảo “Nhìn lại triển vọng TTCK Việt Nam 2013: Tín hiệu từ các chính sách vĩ mô” do CTCP Chứng khoán Bảo Việt tổ chức, TS Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia, Thành viên Ban tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ cho rằng, trong nửa cuối năm 2013, tác động lớn nhất đến nền kinh tế Việt Nam là đầu tư trực tiếp nước ngoài, đặc biệt là dòng vốn từ phía nhà đầu tư Nhật Bản, điều này sẽ giúp Việt Nam có nhịp tăng tương đối ổn định.
Thứ hai là hoạt động mua bán sáp nhập sẽ tăng lên và được tính vào đầu tư gián tiếp vào TTCK, và theo ông Nghĩa, dòng vốn trên thị trường này sẽ không kém thị trường chính thức.
Lý giải việc tỷ giá tăng vọt trong tháng 6 đầu tháng 7/2013, theo TS Nghĩa đó là do hoạt động dịch chuyển tài sản của các NHTM. Các NHTM mua USD khiến dư thừa lượng ngoại tệ rất lớn. Dự trữ ngoại tệ tại NHTM đã tăng từ 350 triệu USD trong tháng 3/2013 lên tới 450 triệu USD vào tháng 6/2013.
Và theo ông nghĩa, các NHTM đã gửi ra nước ngoài khoảng 2,5 tỷ USD tính đến hết tháng 6/2013. Mặc dù lãi suất gửi thấp hơn cả lãi suất cho vay ODA nhưng các NHTM kỳ vọng về việc tăng 2% tỷ giá hối đoái, do đó mức tiền gửi của họ sẽ cao hơn mức huy động của cá nhân và doanh nghiệp. Điều này đã khiến dòng ngoại tệ từ thị trường vào ngân hàng và ra nước ngoài thông qua chênh lệch lãi suất, chứ không phải do nhập khẩu gần đây tăng lên.
Theo ông Nghĩa, việc làm này đã khiến đầu cơ tỷ giá hối đoái là nghiệp vụ đầu cơ lớn cho các NHTM, trước đây đầu cơ tỷ giá hối đoái chỉ mang lại khoảng 10% lợi nhuận cho các ngân hàng thì trong 6 tháng đầu năm 2013 con số này lên tới 30%.
Khi giao dịch trên thị trường ngoại tệ hoàn toàn bằng mua bán, tiền gửi ngoại tệ dân cư tăng tới 17%, tiền gửi ngoại tệ doanh nghiệp tăng tới 9% trong 6 tháng đầu năm 2013. Điều này hàm ý rằng những người gửi tiền đã mua USD để gửi chứ không gửi bằng tiền đồng. Nhưng tác động của việc này không lớn bằng việc chuyển dịch tài sản của các NHTM.
Theo ông Nghĩa, trong “cuộc chiến” chống đôla hóa, chúng ta đã có bước đầu hạn chế cho vay ngoại tệ, rất có thể thời gian tới sẽ tăng dự trữ bắt buộc của ngoại tệ, giới hạn lượng nắm giữ ngoại tệ của NHTM từ +_20% có thể xuống +_10 vốn tự có; thậm chí trong tương lại có thể xóa xổ tiền gửi ngoại tệ, tiến tới doanh nghiệp gửi ngoại tệ tại Ngân hàng sẽ không có lãi suất.
http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/ts-le-xuan-nghia-cac-nhtm-gui-25-ty-usd-ra-nuoc-ngoai-2013072513582075018ca34.chn
Thứ Tư, 24 tháng 7, 2013
8 căn bệnh của nền kinh tế VN có thể giải quyết bằng nội lực?
8 căn bệnh của nền kinh tế VN có thể giải quyết bằng nội lực?
Khi nói đến “nội lực” nên hiểu cả lực vật chất lẫn lực tinh thần hay nói một cách khác là cả nội lực “cứng” lẫn nội lực “mềm”. Đó là trí tuệ biết chọn lựa và điều khiển cách đi phù hợp với tiềm năng và điều kiện của mình và xu thế của thế giới, tạo dựng và động viên được sự đồng tâm hiệp lực của cả dân tộc, biết huy động được cả nguồn lực bên ngoài phục vụ hiệu quả cho sự phát triển của mình.
Phát triển dựa chủ yếu vào đồng vốn và lao động, năng suất lao động tổng hợp thấp. Nói một cách khác là phát triển theo chiều rộng.
- Nền kinh tế không hiệu quả thể hiện ở hiệu quả sử dụng đồng vốn kém, tiêu hao nhiều.
- Kinh tế phát triển chưa bền vững. Tuy đạt được tiến bộ đáng kể về xóa đói giảm nghèo nhưng sự phân hóa giữa các tầng lớp dân cư và vùng miền có xu hướng doãng ra. Còn tồn tại nhiều vấn đề xã hội, kể cả chất lượng giáo dục, y tế, văn hóa; môi trường bị hủy hoại.
- Cơ cấu kinh tế, nhất là đi sâu vào từng ngành, tiểu ngành, sản phẩm còn rất lạc hậu. Khả năng cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp cũng như hàng hóa và dịch vụ còn kém.
Sự tụt hậu xa hơn - chứ không chỉ là “nguy cơ” - so với nhiều nước trong khu vực là nhãn tiền. Ông Vũ Khoan
- Kinh tế chưa thực sự đứng vững trên đôi chân của mình, còn tùy thuộc quá nhiều vào bên ngoài cả về vốn lẫn công nghệ, thị trường.
- Thể chế còn quá nhiều bất cập.
- Chất lượng nguồn nhân lực cả trong quản lý lẫn sản xuất còn thấp kém.
- Hạ tầng sản xuất (bao gồm cà điện nước) và xã hội đều chưa đồng bộ, chất lượng thấp.
http://vneconomy.vn/2013071811482753P0C9920/huy-dong-tri-tue-va-dong-thuan-toan-dan.htm
Khi nói đến “nội lực” nên hiểu cả lực vật chất lẫn lực tinh thần hay nói một cách khác là cả nội lực “cứng” lẫn nội lực “mềm”. Đó là trí tuệ biết chọn lựa và điều khiển cách đi phù hợp với tiềm năng và điều kiện của mình và xu thế của thế giới, tạo dựng và động viên được sự đồng tâm hiệp lực của cả dân tộc, biết huy động được cả nguồn lực bên ngoài phục vụ hiệu quả cho sự phát triển của mình.
Phát triển dựa chủ yếu vào đồng vốn và lao động, năng suất lao động tổng hợp thấp. Nói một cách khác là phát triển theo chiều rộng.
- Nền kinh tế không hiệu quả thể hiện ở hiệu quả sử dụng đồng vốn kém, tiêu hao nhiều.
- Kinh tế phát triển chưa bền vững. Tuy đạt được tiến bộ đáng kể về xóa đói giảm nghèo nhưng sự phân hóa giữa các tầng lớp dân cư và vùng miền có xu hướng doãng ra. Còn tồn tại nhiều vấn đề xã hội, kể cả chất lượng giáo dục, y tế, văn hóa; môi trường bị hủy hoại.
- Cơ cấu kinh tế, nhất là đi sâu vào từng ngành, tiểu ngành, sản phẩm còn rất lạc hậu. Khả năng cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp cũng như hàng hóa và dịch vụ còn kém.
- Kinh tế chưa thực sự đứng vững trên đôi chân của mình, còn tùy thuộc quá nhiều vào bên ngoài cả về vốn lẫn công nghệ, thị trường.
- Thể chế còn quá nhiều bất cập.
- Chất lượng nguồn nhân lực cả trong quản lý lẫn sản xuất còn thấp kém.
- Hạ tầng sản xuất (bao gồm cà điện nước) và xã hội đều chưa đồng bộ, chất lượng thấp.
http://vneconomy.vn/2013071811482753P0C9920/huy-dong-tri-tue-va-dong-thuan-toan-dan.htm
phát triển kinh tế bền vững
Rất mong chính phủ giữ vững chiến lược phát triển kinh tế xã hội: Phát triển bền vững theo chiều sâu chứ không theo chiều rộng, mặc cho những khó khăn và sự trì trệ hiện nay.
Trì trệ hiện nay là nguy cơ sâu. Không thể cứ nhìn tăng trưởng quý này hơn quý kia là được. Chúng ta phải nhìn thẳng vào sự thật. Trước đây, nền kinh tế dựa vào 4 yếu tố: nền nông nghiệp ổn định có tốc độ tăng trưởng cao, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI. Nhưng bây giờ, nền kinh tế duy trì tăng trưởng chỉ còn dựa trên duy nhất doanh nghiệp FDI. Sự sút giảm sức cạnh tranh của cả DNNN và DN tư nhân khiến kinh tế Việt Nam đuối sức, khó vượt đỉnh hay duy trì mức đã đạt trước đây", ông nói.
Trì trệ hiện nay là nguy cơ sâu. Không thể cứ nhìn tăng trưởng quý này hơn quý kia là được. Chúng ta phải nhìn thẳng vào sự thật. Trước đây, nền kinh tế dựa vào 4 yếu tố: nền nông nghiệp ổn định có tốc độ tăng trưởng cao, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI. Nhưng bây giờ, nền kinh tế duy trì tăng trưởng chỉ còn dựa trên duy nhất doanh nghiệp FDI. Sự sút giảm sức cạnh tranh của cả DNNN và DN tư nhân khiến kinh tế Việt Nam đuối sức, khó vượt đỉnh hay duy trì mức đã đạt trước đây", ông nói.
Tuy nhiên, theo ông Lịch, nếu căn cứ nghị quyết Quốc
hội là ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát thì 2013 chỉ tiêu ổn
định vĩ mô ổn định hơn. Với sức mua hiện nay thì lạm phát khó mà xảy ra
trong 2013-2014. Ổn định tỉ giá tốt, dự trữ ngoại tệ chưa bao giờ cao
như hiện nay. Nhưng đạt được điều đó mà để nền kinh tế rơi vào trì trệ
là phải tính.
Cụ thể, ông Trần Du Lịch đề xuất: “Không nên lưu luyến
những chỉ tiêu 5 năm, mà phải đặt chỉ tiêu 3 năm. Ngoài chính sách tiền
tệ, cần phải áp dụng chính sách tài khóa. Về chính sách tài khóa, việc
ta khống chế nợ công là cần thiết nhưng trong 1-2 năm tới phải có quyết
định tăng bội chi ở nhiều hình thức khác nhau để nới rộng chính sách tài
khóa.
Tôi biết đây sẽ là quyết định rất khó khăn của Quốc hội
nhưng cần phải tính. Chẳng hạn với những dự án đã hoàn thành trên 60%
thì nên tiếp tục rót vốn để nhanh chóng hoàn thành để còn đưa vào khai
thác.
Ngoài ra, cần ưu tiên xử lý cho được khu vực DN nhà
nước, phải lành mạnh hóa khu vực này. Tái cấu trúc DN rất khó khăn nếu
bản thân Nhà nước không xử lý được DN của mình”.
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/549659/khong-the-cuu-nen-kinh-te-bang-giai-phap-binh-thuong.htmlThứ Hai, 22 tháng 7, 2013
Quay trở lại câu chuyện quản lý, hầu hết các ý kiến đều khẳng định đây không phải là việc quá khó. Theo ông Dũng, chỉ cần áp dụng quy định truy xuất nguồn gốc thực phẩm cho cá tầm trên thị trường nội địa. Vì người mua cá ở chợ có thể không biết nguồn gốc nhưng người bán cá tầm cho bà bán cá phải biết họ lấy ở đâu.
http://vneconomy.vn/20130707085646426P0C19/ca-tam-trung-quoc-duoc-doc-quyen-tai-viet-nam.htm
Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2013
Có lẽ cần tính đến biện pháp mình là người vận chuyển đi bán sẽ chủ động hơn chăng khi làm ăn với TQ, khi mà ngay cả con đường chính ngạch rủi ro vẫn lớn, đơn phương hủy hợp đồng và chỉ nhằm đầu cơ chứ không có nhu cầu thực tế ?
Vị trưởng phòng kinh doanh thông tin, từ đầu năm đến nay đây là đợt thứ 2 có hiện tượng gạo vận chuyển nhiều ra phía Bắc. Cũng như lần trước, lần này thương nhân Trung Quốc vào trực tiếp các nhà máy để mua gạo, họ chỉ chọn mua gạo có phẩm cấp thấp, giá rẻ chứ không mua loại cao cấp như trong vụ đông xuân hồi đầu năm. "Chúng tôi bán tại kho, không có hợp đồng mà chỉ cần xuất hoá đơn. Thương nhân Trung Quốc trả tiền trước và tự thuê xe để vận chuyển", ông này nói thêm.
http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/thi-truong/thuong-lai-trung-quoc-thu-mua-gao-gia-re-2851544.html
Vị trưởng phòng kinh doanh thông tin, từ đầu năm đến nay đây là đợt thứ 2 có hiện tượng gạo vận chuyển nhiều ra phía Bắc. Cũng như lần trước, lần này thương nhân Trung Quốc vào trực tiếp các nhà máy để mua gạo, họ chỉ chọn mua gạo có phẩm cấp thấp, giá rẻ chứ không mua loại cao cấp như trong vụ đông xuân hồi đầu năm. "Chúng tôi bán tại kho, không có hợp đồng mà chỉ cần xuất hoá đơn. Thương nhân Trung Quốc trả tiền trước và tự thuê xe để vận chuyển", ông này nói thêm.
Hiện nay, mua bán tiểu ngạch kiểu "tiền trao cháo múc" được coi là an
toàn. Những trường hợp còn lại, kể cả có chứng từ rõ ràng, xuất qua con
đường chính ngạch thì mức độ rủi ro vẫn khá lớn. VFA cũng đánh giá,
Trung Quốc là thị trường tiềm năng, có nhu cầu lớn, nhưng có khá nhiều
rủi ro, khó kiếm lời cao nên doanh nghiệp phải tỉnh táo trong mua bán.
Các rủi ro có thể đến từ khâu thanh toán, lừa gạt hợp đồng hay đến từ
việc thương nhân Trung Quốc có thể đơn phương huỷ hợp đồng khi gặp bất
lợi. VFA, mặc dù không công bố chích xác, nhưng theo tìm hiểu, từ đầu
năm đến nay, gạo xuất chính ngạch bị thương nhân Trung Quốc đơn phương
huỷ hợp đồng lên đến hàng trăm ngàn tấn. Trường hợp này, bên chịu thiệt
hại thường rơi vào phía doanh nghiệp Việt Nam.
Ngoài ra, đặc điểm của thị trường Trung Quốc là mua gạo phần lớn nhằm
hưởng chênh lệch giá chứ không hẳn chỉ để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong
nước, nên họ thường trả giá rất thấp nhằm đảm bảo lợi nhuận.http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/thi-truong/thuong-lai-trung-quoc-thu-mua-gao-gia-re-2851544.html
bán hàng vỉa hè và hoa quả khoog rõ xuất xứ nhưng mang lại cuộc sống cho người dân
Trong chuỗi giá trị, thương lái chỉ nên đóng vai trò là người thúc đẩy, nhưng thế, hàng hóa sẽ đi từ người sản xuất đến tay người tiêu dùng sẽ không bị tăng giá qua khâu trung gian. Bán hàng rong, bán hàng vỉa hè có lẽ sẽ giải quyết được việc này ?
Việc cam kết chất lượng hàng quá, xuất xứ ... chắc sẽ cần giải quyết chính tại nơi sản xuất chứ không phải nơi tiêu thụ: ở đây, người bán hàng chỉ cần cam kết bằng miệng.
Ngoài cua biển, cá sấu, nay ba ba cũng gia nhập vào nhóm bày bán ở vỉa hè. Dọc đường Xa Lộ Hà Nội nối dài từ quận Bình Thạnh tới quận 9 có ít nhất 3 điểm bán. Người bán không nói cụ thể nguồn gốc sản phẩm mà chỉ cam đoan rằng ba ba được lấy từ các cơ sở, trang trại nuôi ở một số tỉnh miền Tây.
Vải thiều có giá 28.000 đồng một kg, nho Ninh Thuận 45.000 đồng một kg, mít thái 20.000 đồng một kg, bơ sáp Đăk Lăk 25.000 đồng một kg. Hầu hết tiểu thương đều cam kết hàng chính hãng, lấy tận gốc chứ không qua khâu trung gian nào nên hàng đảm bảo chất lượng mà giá lại rẻ.
Giải thích việc đua nhau bán ở vỉa hè, nhiều tiểu thương cho biết, vì trái cây vào mùa nên thu gom lên thành phố bán để kiếm thêm. Để có giá rẻ cho người tiêu dùng, thay vì thuê sạp để bán, nhiều tiểu thương tiết kiệm chi phí bằng cách bán ngay trên xe chở hàng, có người bày bán tại vỉa hè. Mỗi lần thấy công an hay trật tự, các xe hàng rong nhanh chóng di chuyển đi nơi khác, hoặc thu gom hàng cất vào trong đợi cho họ đi rồi quay trở lại.
http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/thi-truong/dac-san-ba-ba-ca-sau-ban-o-via-he-tp-hcm-2850364.html
Việc cam kết chất lượng hàng quá, xuất xứ ... chắc sẽ cần giải quyết chính tại nơi sản xuất chứ không phải nơi tiêu thụ: ở đây, người bán hàng chỉ cần cam kết bằng miệng.
Ngoài cua biển, cá sấu, nay ba ba cũng gia nhập vào nhóm bày bán ở vỉa hè. Dọc đường Xa Lộ Hà Nội nối dài từ quận Bình Thạnh tới quận 9 có ít nhất 3 điểm bán. Người bán không nói cụ thể nguồn gốc sản phẩm mà chỉ cam đoan rằng ba ba được lấy từ các cơ sở, trang trại nuôi ở một số tỉnh miền Tây.
Vải thiều có giá 28.000 đồng một kg, nho Ninh Thuận 45.000 đồng một kg, mít thái 20.000 đồng một kg, bơ sáp Đăk Lăk 25.000 đồng một kg. Hầu hết tiểu thương đều cam kết hàng chính hãng, lấy tận gốc chứ không qua khâu trung gian nào nên hàng đảm bảo chất lượng mà giá lại rẻ.
Giải thích việc đua nhau bán ở vỉa hè, nhiều tiểu thương cho biết, vì trái cây vào mùa nên thu gom lên thành phố bán để kiếm thêm. Để có giá rẻ cho người tiêu dùng, thay vì thuê sạp để bán, nhiều tiểu thương tiết kiệm chi phí bằng cách bán ngay trên xe chở hàng, có người bày bán tại vỉa hè. Mỗi lần thấy công an hay trật tự, các xe hàng rong nhanh chóng di chuyển đi nơi khác, hoặc thu gom hàng cất vào trong đợi cho họ đi rồi quay trở lại.
http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/thi-truong/dac-san-ba-ba-ca-sau-ban-o-via-he-tp-hcm-2850364.html
Người tiêu dùng yêu nươc
Như vậy, người tiêu dùng yêu nước là người tiêu dùng thông minh, mua sản
phẩm vì nó “sạch” chứ không mua sản phẩm chỉ vì nó được sản xuất bởi
doanh nghiệp Việt Nam hay doanh nghiệp nước ngoài. Họ biết tẩy chay các
sản phẩm sản xuất dựa trên sự bất công, trốn thuế, tàn phá môi trường,
hay tước đoạt tự do của công nhân. Để làm được điều này, cần có thông
tin minh bạch về nguồn gốc sản phẩm cũng như hoạt động của các công ty.
Quan trọng hơn, người tiêu dùng cần có các tổ chức phi chính phủ độc
lập, cũng như hiệp hội của mình để có thể đánh giá và phản ánh quan điểm
của họ. Chỉ có khi đó, quyền lợi của người tiêu dùng mới được bảo vệ và
họ có thể gây áp lực lên các công ty theo hướng trở thành các doanh
nghiệp có trách nhiệm xã hội, và yêu nước. Khi đó, họ chính là những
người tiêu dùng yêu nước!
http://dienngon.vn/Blog/Article/dung-hang-viet-la-yeu-nuoc
http://dienngon.vn/Blog/Article/dung-hang-viet-la-yeu-nuoc
Xuất xứ nhãn hàng và không tôn trọng luật pháp đã gây thiệt hại lớn cho người dân
http://tuoitre.vn/Kinh-te/559649/do-no-vi-giong-ca-chua-trung-quoc.htmlTheo hướng dẫn quy trình phổ biến giống từ Sở NN&PTNT tỉnh Lâm Đồng,
khi phổ biến giống mới, đơn vị phân phối giống phải thực hiện trồng
biểu diễn, hội thảo đầu bờ, tập huấn kỹ thuật canh tác cho nông dân.
Trong trường hợp này, đại lý cung cấp giống Nato độc quyền tại huyện Đơn
Dương là bà Bùi Thị Nguyệt (thị trấn Thạnh Mỹ) đã bỏ qua tất cả giai
đoạn trên, nhưng vẫn phổ biến giống Nato trên diện tích đất trước đây
vốn chỉ trồng giống cà chua Anna. Bà Nguyệt thừa nhận là người cung cấp
50kg hạt giống Nato với khoảng 1,7 triệu cây giống cho các vườn ươm.
Ông Trần Văn Thông, chánh thanh tra Sở NN&PTNT Lâm
Đồng, cho rằng trong vụ việc này các vườn ươm đã âm thầm đánh tráo giống
gây thiệt hại cho nông dân. Chưa kể các nhà vườn còn kiếm lợi nhuận
“khủng” từ vụ này, bởi hạt giống Nato giá chỉ 32 triệu đồng/kg, còn hạt
giống Anna giá 42 triệu đồng/kg, nhưng khi ươm thành cây giống thì bán
giá ngang nhau.
Đáng chú ý, trên bao bì giống cà chua Nato do Công ty
TNHH thương mại hạt giống và nông sản Phù Sa (TP.HCM) ghi cùng lúc hai
xuất xứ của hạt giống: Hong Kong (Trung Quốc) và Thái Lan. Ông Trần Cao
Đại, giám đốc Công ty Phù Sa, giải thích giống Nato sản xuất tại nhiều
quốc gia do Công ty Enza Zaden cung cấp. “Lô hàng gặp trục trặc tại
huyện Đơn Dương đáng lẽ nhập từ Thái Lan nên tôi in sẵn nhãn đề xuất xứ
Thái Lan, tuy nhiên khi nhà cung cấp chuyển hàng Trung Quốc về tôi mới
làm thêm nhãn phụ xuất xứ là Hong Kong”.
Cơ hội và thách thức để phát triển việc phát triển nguồn nguyên liệu nội địa
TT - Nhiều nhà đầu tư nước ngoài đang tích cực tăng vốn, mở rộng sản xuất vào các ngành công nghiệp phụ trợ tại VN như sợi dệt, linh kiện máy móc, điện tử để đón đầu cơ hội các hiệp định thương mại mà VN đang đàm phán.
Những động thái này được cho là nhằm đón đầu cơ hội từ Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) mà VN đang tham gia đàm phán. Theo quy định của TPP, để được hưởng thuế suất 0% khi xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Mỹ, nguyên liệu phải được sản xuất tại VN, hoặc sử dụng từ các nước là thành viên của TPP. Nguyên tắc này nhằm bảo đảm các nước tham gia TPP sẽ được hưởng lợi từ các quy định này chứ không phải là những nước thứ ba.
Theo Hiệp hội Dệt may VN (Vitas), dù được đánh giá là ngành có tăng trưởng lớn về kim ngạch xuất khẩu, có cạnh tranh ổn định ở các thị trường quan trọng như Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, nhưng ngành dệt may trong nước vẫn còn những hạn chế, đặc biệt với việc thực hiện chuỗi cung ứng cho mình vẫn phải phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu nguyên liệu.
Thực trạng này dẫn đến những điểm yếu doanh nghiệp trong nước ở chỗ dù mạnh về khâu may (vốn đầu tư thấp, dễ dịch chuyển) nhưng lại rủi ro về phát triển bền vững, hạ tầng nguyên liệu còn thấp. Mà muốn tận dụng hiệu quả cao nhất của TPP thì phải hình thành chuỗi cung ứng bên trong, có sự liên kết hữu cơ giữa các khâu để hình thành chuỗi cung ứng hoàn chỉnh từ thiết kế - nguyên phụ liệu - may - phân phối.
Ông Trần Quang Nghị, tổng giám đốc Vinatex, cho rằng cơ quan hữu quan cần có cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ trước và sau đầu tư của các dự án đầu tư vào dệt nhuộm. “Bất kể là của doanh nghiệp trong nước hay ngoài nước, với một hàng rào kỹ thuật chuẩn mực buộc các dự án này phải đảm bảo sử dụng công nghệ mới, có yếu tố bền vững, không gây tác hại môi trường là hết sức cần thiết” - ông Nghị nhấn mạnh. Nếu không, VN sẽ khó lòng tránh khỏi nguy cơ trở thành nơi chứa rác thải công nghiệp, môi trường ô nhiễm trước khi “tận hưởng” được những lợi ích từ TPP mang lại.
http://tuoitre.vn/Kinh-te/559497/hang-ti-usd-do-vao-nganh-det-may.html
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)