Câu hỏi đặt
ra là Việt Nam có thể hy vọng thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa
bằng ĐTNN không? Kết quả đạt được cho đến nay cho phép trả lời là không
thể công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại chỉ trông chờ vào ĐTNN
mà không phát triển những doanh nghiệp dân tộc, có thương hiệu cạnh
tranh trên thị trường thế giới, làm biểu tượng cho đất nước Việt Nam. Đã
đến lúc phải cân đối lại giữa chính sách thu hút ĐTNN bằng mọi giá
trong khi không coi trọng phát triển các doanh nghiệp dân tộc của Việt
Nam.
http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/ykien/100989/Dau-tu-nuoc-ngoai-va-doanh-nghiep-dan-toc.html
3Loe
Chủ Nhật, 18 tháng 8, 2013
Hai mặt của FDI
hống kê
của ông Phan Hữu Thắng cho biết vốn FDI tăng nhanh và chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng vốn đầu tư xã hội qua các thời kỳ: từ 26,6 tỉ đô la Mỹ,
chiếm 24,4% tổng vốn đầu tư xã hội giai đoạn 1991-2000; lên 69,5 tỉ đô
la, chiếm 22,7% tổng vốn đầu tư xã hội giai đoạn 2001-2011. Tỷ trọng
đóng góp của FDI trong GDP tăng từ 2% năm 1992 lên 10,7% năm 2000, 16,9%
năm 2006, 18,9% năm 2011. Bất kể ở góc độ nào, thì luồng vốn FDI cũng
đang có xu thế mở rộng và dần lấn át doanh nghiệp trong nước.
Câu hỏi đặt ra, xu thế này có tốt hay không? Hầu hết các chuyên gia mà Thời báo Kinh tế Sài Gòn có cơ hội trao đổi đều khẳng định là xu thế tích cực. Ông Lê Xuân Nghĩa giải thích: “Tác động của FDI rất quan trọng, đặc biệt là qua hai lần khủng hoảng năm 1997 và 2008 vừa rồi. Khu vực FDI đã giúp nền kinh tế duy trì tăng trưởng, dù ở mức thấp, trong cả hai lần khủng hoảng này”.
http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/sotay/100990/Hai-mat-cua-FDI.html
Câu hỏi đặt ra, xu thế này có tốt hay không? Hầu hết các chuyên gia mà Thời báo Kinh tế Sài Gòn có cơ hội trao đổi đều khẳng định là xu thế tích cực. Ông Lê Xuân Nghĩa giải thích: “Tác động của FDI rất quan trọng, đặc biệt là qua hai lần khủng hoảng năm 1997 và 2008 vừa rồi. Khu vực FDI đã giúp nền kinh tế duy trì tăng trưởng, dù ở mức thấp, trong cả hai lần khủng hoảng này”.
http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/sotay/100990/Hai-mat-cua-FDI.html
Tích cực và tiêu cực của FDI
Ở phía ngược lại chưa có thống kê nào cho thấy số doanh nghiệp Việt Nam
xuất khẩu triệu đô trở lên như vậy cỡ bao nhiêu. Hoặc sức lan tỏa của
các doanh nghiệp FDI triệu đô đến đâu khi nhiều mặt hàng, ví dụ như sản
phẩm điện tử linh kiện của khối FDI tăng đến 67,5% nhưng chỉ số tồn kho
của ngành công nghiệp sản xuất dây, cáp điện và dây dẫn điện tử (mang
tính phụ trợ cho nhiều sản phẩm điện tử) của các doanh nghiệp Việt tăng
đến gần 50% so với cùng kỳ.
Doanh nghiệp FDI đầu tư vào Việt Nam luôn được chào đón. Và những ưu đãi đầu tư thể hiện sự chào đón đó có lẽ đã được các cơ quan quản lý tính toán cân nhắc sự được mất để đổi lại sự có mặt của các dự án FDI trong những thời điểm cụ thể vừa qwww.thesaigontimes.vn/Home/diendan/sotay/100991/Hai-dong-chay-song-hanh.htmlua.
Doanh nghiệp FDI đầu tư vào Việt Nam luôn được chào đón. Và những ưu đãi đầu tư thể hiện sự chào đón đó có lẽ đã được các cơ quan quản lý tính toán cân nhắc sự được mất để đổi lại sự có mặt của các dự án FDI trong những thời điểm cụ thể vừa qwww.thesaigontimes.vn/Home/diendan/sotay/100991/Hai-dong-chay-song-hanh.htmlua.
Thứ Sáu, 9 tháng 8, 2013
Ban điều phối ngành hàng ca phê
http://www.thesaigontimes.vn/Home/nongsan/tintucthitruong/100713/Dieu-hanh-ca-phe-cung-phai-hoc.html
Một chuyên gia cà phê phân tích sự thiếu liên kết cả chuỗi ngành hàng từ trồng, chế biến, xuất khẩu dẫn tới khâu tiếp thị, thông tin thị trường kém, nông dân thì thiếu vốn, nhà máy chế biến hay nhà xuất khẩu thì có sản phẩm cà phê có giá trị gia tăng thấp. Ông than thở: “Chừng nào mà nông dân còn phơi cà phê tươi trên sân đất nhà mình, không biết vay vốn ở đâu, bán cà phê cho ai trước khi thu hoạch, doanh nghiệp xuất khẩu thì bán 1 lô hàng cà phê phải mua gom từ hàng chục đại lý thì chừng đó ngành cà phê còn lận đận”.
Do vậy, các chuyên gia đã kiến nghị thành lập Ban điều phối ngành hàng cà phê Việt Nam theo hướng liên kết cả chuỗi
ngành hàng cà phê, từ nhà nông, hội nông dân, nhà doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, nhà khoa học, các cơ quan quản lý, cơ quan khuyến nông… Đặc biệt tổ chức này đảm nhiệm luôn quỹ bảo hiểm cà phê, nếu nó ra đời. Tổ chức này đảm nhận việc hoạch định chính sách cho cà phê, cung cấp thông tin thị trường, chiến lược trồng, chế biến, thương mại cà phê trong nước, xuất khẩu và thông qua ngân sách hàng năm cho quỹ phát triển cà phê.
Một chuyên gia cà phê phân tích sự thiếu liên kết cả chuỗi ngành hàng từ trồng, chế biến, xuất khẩu dẫn tới khâu tiếp thị, thông tin thị trường kém, nông dân thì thiếu vốn, nhà máy chế biến hay nhà xuất khẩu thì có sản phẩm cà phê có giá trị gia tăng thấp. Ông than thở: “Chừng nào mà nông dân còn phơi cà phê tươi trên sân đất nhà mình, không biết vay vốn ở đâu, bán cà phê cho ai trước khi thu hoạch, doanh nghiệp xuất khẩu thì bán 1 lô hàng cà phê phải mua gom từ hàng chục đại lý thì chừng đó ngành cà phê còn lận đận”.
Do vậy, các chuyên gia đã kiến nghị thành lập Ban điều phối ngành hàng cà phê Việt Nam theo hướng liên kết cả chuỗi
Nông dân tham gia Ban điều phối
Trưởng ban Điều phối ngành hàng Cà phê Việt Nam sẽ do ông Lê Quốc Doanh, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT đảm nhiệm, cùng với đó là 12 ủy viên là đại diện thuộc các đơn vị liên quan từ các đơn vị liên quan tại Bộ NN-PTNT, các địa phương, hiệp hội, tổ chức và người sản xuất, chế biến, tiêu thụ cà phê Việt Nam. |
ngành hàng cà phê, từ nhà nông, hội nông dân, nhà doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, nhà khoa học, các cơ quan quản lý, cơ quan khuyến nông… Đặc biệt tổ chức này đảm nhiệm luôn quỹ bảo hiểm cà phê, nếu nó ra đời. Tổ chức này đảm nhận việc hoạch định chính sách cho cà phê, cung cấp thông tin thị trường, chiến lược trồng, chế biến, thương mại cà phê trong nước, xuất khẩu và thông qua ngân sách hàng năm cho quỹ phát triển cà phê.
Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013
Phát triển bền vững SME
Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) vừa công bố
kết quả điều tra, khảo sát đối với 2.449 doanh nghiệp nhỏ và vừa tại 10
tỉnh, thành phố lớn trên cả nước, trong đó có Hà Nội, Tp.HCM, Hải Phòng,
Quảng Nam, Khánh Hòa, Lâm Đồng…
Hối lộ, “né” thuế, phá sản...
Báo cáo chỉ ra rằng, các doanh nghiệp gia đình, hộ gia đình không đóng góp nhiều cho hệ thống thuế. Hầu hết doanh nghiệp không đóng thuế là doanh nghiệp hộ gia đình phi chính thức. Tính phi chính thức và thuế có mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động hối lộ, tham nhũng và là các nhân tố chính trong môi trường kinh doanh của một số quốc gia.
Theo khảo sát, 34% số doanh nghiệp có các khoản chi phí phi chính thức trong năm 2009 và con số này tăng lên 38% trong năm 2011. Gần 26% các khoản chi phi chính thức có liên quan đến các dịch vụ công (tăng lên so với tỷ lệ 20% trong năm 2009). Điều này cho thấy, số doanh nghiệp hối lộ đã tăng lên đáng kể.
Như vậy, kết quả báo cáo này cũng tương đối trùng với khảo sát về tham nhũng dưới góc nhìn của người dân, doanh nghiệp, cán bộ công chức, viên chức vừa được Thanh tra Chính phủ và Ngân hàng Thế giới (WB) công bố hôm 20/11. Theo đó, nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện nay vẫn phải chi các khoản phi chính thức “để được việc”.
Tuy nhiên, báo cáo này đã đưa ra một phát hiện bất ngờ: doanh nghiệp chi hối lộ không mở rộng lực lượng lao động của mình nhiều hơn so với các doanh nghiệp không chi hối lộ. Song song, các doanh nghiệp chi hối lộ cũng có xác suất “thoát” khỏi thị trường cao hơn (3%).
Nhận định về phát hiện này, TS. Phạm Thị Thu Hằng (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI) đặt câu hỏi: “Phải chăng, hàm ý ở đây là những doanh nghiệp làm ăn không bài bản, có vẻ như sẽ quan tâm nhiều hơn đến việc phải bỏ ra các chi phí không chính thức? Ngược lại, các doanh nghiệp làm ăn chân chính cũng vẫn có thể phát triển bình thường”.
Làm rõ thêm cho hiện tượng này, GS. John Rand, Cơ quan Hợp tác Phát triển Đan Mạch nói, “mức độ chính thức hóa của doanh nghiệp tăng lên thì nguồn thu thuế cũng sẽ tăng lên, nhưng một số doanh nghiệp đã trả phí phi chính thức cho cơ quan thuế để trốn thuế”.
Ít cải tiến sản phẩm
Trong tổng số 2.508 doanh nghiệp được triển khai điều tra năm 2009, có khoảng 20% đã đóng cửa sau hai năm sau. Theo TS. Phạm Thị Thu Hằng, kết quả điều tra cũng chỉ ra một thực tế là các doanh nghiệp nhỏ và vừa có xác suất thoát khỏi thị trường thấp hơn các doanh nghiệp siêu nhỏ.
Bên cạnh đó, có tới 40% (800/1.998 doanh nghiệp) cho biết không cải tiến sản phẩm hiện tại trong 4 năm được nghiên cứu.
Theo TS. Hằng, khi thị trường của các doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ yếu là thị trường nội địa và vấn nạn hàng nhập lậu vẫn còn nhức nhối, thì việc cải tiến sản phẩm chiếm lĩnh thị trường là vô cùng quan trọng. Nếu xu hướng này tiếp tục kéo dài thì rất có thể, thêm nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ phải sớm rút lui khỏi thị trường.
Thực tế cho thấy, trong 9 tháng năm 2012, trước tình hình sản xuất, kinh doanh gặp nhiều khó khăn, đã có trên 42.000 doanh nghiệp phải dừng hoạt động và giải thể.
Về vấn đề tiếp cận tín dụng, điều tra cho thấy, nhu cầu tín dụng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn rất cao, trong khi các rào cản tín dụng đối với khối doanh nghiệp này chưa được cải thiện nhiều. Điều tra cho thấy, hiện gần 39% doanh nghiệp có thể được coi là gặp khó khăn về tín dụng.
Hối lộ, “né” thuế, phá sản...
Báo cáo chỉ ra rằng, các doanh nghiệp gia đình, hộ gia đình không đóng góp nhiều cho hệ thống thuế. Hầu hết doanh nghiệp không đóng thuế là doanh nghiệp hộ gia đình phi chính thức. Tính phi chính thức và thuế có mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động hối lộ, tham nhũng và là các nhân tố chính trong môi trường kinh doanh của một số quốc gia.
Theo khảo sát, 34% số doanh nghiệp có các khoản chi phí phi chính thức trong năm 2009 và con số này tăng lên 38% trong năm 2011. Gần 26% các khoản chi phi chính thức có liên quan đến các dịch vụ công (tăng lên so với tỷ lệ 20% trong năm 2009). Điều này cho thấy, số doanh nghiệp hối lộ đã tăng lên đáng kể.
Như vậy, kết quả báo cáo này cũng tương đối trùng với khảo sát về tham nhũng dưới góc nhìn của người dân, doanh nghiệp, cán bộ công chức, viên chức vừa được Thanh tra Chính phủ và Ngân hàng Thế giới (WB) công bố hôm 20/11. Theo đó, nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện nay vẫn phải chi các khoản phi chính thức “để được việc”.
Tuy nhiên, báo cáo này đã đưa ra một phát hiện bất ngờ: doanh nghiệp chi hối lộ không mở rộng lực lượng lao động của mình nhiều hơn so với các doanh nghiệp không chi hối lộ. Song song, các doanh nghiệp chi hối lộ cũng có xác suất “thoát” khỏi thị trường cao hơn (3%).
Nhận định về phát hiện này, TS. Phạm Thị Thu Hằng (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI) đặt câu hỏi: “Phải chăng, hàm ý ở đây là những doanh nghiệp làm ăn không bài bản, có vẻ như sẽ quan tâm nhiều hơn đến việc phải bỏ ra các chi phí không chính thức? Ngược lại, các doanh nghiệp làm ăn chân chính cũng vẫn có thể phát triển bình thường”.
Làm rõ thêm cho hiện tượng này, GS. John Rand, Cơ quan Hợp tác Phát triển Đan Mạch nói, “mức độ chính thức hóa của doanh nghiệp tăng lên thì nguồn thu thuế cũng sẽ tăng lên, nhưng một số doanh nghiệp đã trả phí phi chính thức cho cơ quan thuế để trốn thuế”.
Ít cải tiến sản phẩm
Trong tổng số 2.508 doanh nghiệp được triển khai điều tra năm 2009, có khoảng 20% đã đóng cửa sau hai năm sau. Theo TS. Phạm Thị Thu Hằng, kết quả điều tra cũng chỉ ra một thực tế là các doanh nghiệp nhỏ và vừa có xác suất thoát khỏi thị trường thấp hơn các doanh nghiệp siêu nhỏ.
Bên cạnh đó, có tới 40% (800/1.998 doanh nghiệp) cho biết không cải tiến sản phẩm hiện tại trong 4 năm được nghiên cứu.
Theo TS. Hằng, khi thị trường của các doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ yếu là thị trường nội địa và vấn nạn hàng nhập lậu vẫn còn nhức nhối, thì việc cải tiến sản phẩm chiếm lĩnh thị trường là vô cùng quan trọng. Nếu xu hướng này tiếp tục kéo dài thì rất có thể, thêm nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ phải sớm rút lui khỏi thị trường.
Thực tế cho thấy, trong 9 tháng năm 2012, trước tình hình sản xuất, kinh doanh gặp nhiều khó khăn, đã có trên 42.000 doanh nghiệp phải dừng hoạt động và giải thể.
Về vấn đề tiếp cận tín dụng, điều tra cho thấy, nhu cầu tín dụng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn rất cao, trong khi các rào cản tín dụng đối với khối doanh nghiệp này chưa được cải thiện nhiều. Điều tra cho thấy, hiện gần 39% doanh nghiệp có thể được coi là gặp khó khăn về tín dụng.
Thứ Ba, 30 tháng 7, 2013
cải cách thể chế chính trị ở Trung Quốc
Ngày càng có nhiều người tin rằng, sẽ sớm
diễn ra cải cách chính trị tại Trung Quốc sau những phát biểu gần đây của các
nhân vật cấp cao trong giới lãnh đạo đất nước này.
Tín hiệu quan trọng
Thực ra, lời kêu gọi cải cách chính trị của Thủ
tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo tại Thâm Quyến ngày 22.8 chỉ là sự nhấn mạnh và
chính thức phát tín hiệu cải cách thể chế chính trị cho toàn dân nước này. Theo
Tân Hoa xã ngày 5.3.2010, trong báo cáo công tác chính phủ tại Bắc Kinh, ông Ôn
Gia Bảo từng nêu rõ: “Cải cách Trung Quốc là cải cách toàn diện, bao gồm thể chế
kinh tế, thể chế chính trị và nhiều lĩnh vực khác. Nếu không có cải cách chính
trị thì việc cải cách thể chế kinh tế và hiện đại hóa không thể thành công”. Cải
cách thể chế chính trị ít nhiều đã được đề cập trong báo cáo thường niên về công
tác chính phủ, nhưng về cơ bản được diễn đạt thành “tích cực phát triển ổn
định”. Theo phân tích của các chuyên gia nước này, báo cáo công tác Chính phủ
Trung Quốc năm 2010 đã đưa ra một tín hiệu quan trọng nhằm thúc đẩy cải cách
chính trị.
Trước khi có lời kêu gọi của ông Ôn Gia Bảo, dư
luận trong và ngoài nước đã rất chú ý đến bài viết của trung tướng Lưu Á Châu
đăng trên tạp chí Phoenix của Hồng Kông (báo Sydney Morning Herald của Úc dẫn
lại vào ngày 12.8). Trong bài viết, tướng Lưu kêu gọi nhanh chóng thay đổi mô
hình thể chế tại Trung Quốc. “Một hệ thống không cho người dân được thở không
khí tự do và phát huy sức sáng tạo đến mức cao nhất, một hệ thống không lựa chọn
những người tốt nhất làm đại diện cho chế độ và nhân dân để đưa vào các vị trí
lãnh đạo, hệ thống ấy sẽ đi đến diệt vong”, ông viết. Ông Lưu cũng cho rằng
Trung Quốc không thể chỉ dựa vào sức mạnh kinh tế mà vươn lên được: “Một quốc
gia chỉ chăm chăm vào sức mạnh đồng tiền thì chỉ là một quốc gia chậm tiến và
ngu dốt”. Cuối cùng, ông kết luận: “Trong 10 năm tới, sẽ không thể tránh khỏi
một sự chuyển đổi từ chính trị quyền lực sang dân chủ”.
Những ý kiến của tướng Lưu khiến dư luận rất quan
tâm vì vị thế của ông trong hệ thống chính trị ở Trung Quốc. Sinh năm 1952, ông
từng là Phó chính ủy bộ đội không quân Trung Quốc và vừa được thăng lên Chính ủy
Học viện Quốc phòng. Ông còn là con rể của cố Chủ tịch Lý Tiên Niệm, một trong
“Bát đại nguyên lão” của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Mặt khác, nền kinh tế phát triển quá nhanh của
Trung Quốc đã dẫn tới nhiều hệ lụy như khoảng cách giàu nghèo chênh lệch khủng
khiếp, xu hướng chạy theo lợi nhuận bất chấp hậu quả dẫn tới nhiều vụ sữa bẩn,
sập hầm mỏ, môi trường bị xâm hại, người dân bất mãn chính quyền... Vì thế việc
tìm kiếm chiếc áo mới rộng hơn cùng chế độ quản lý phù hợp là một yêu cầu cấp
bách của quốc gia đông dân nhất thế giới.
Nỗ lực may áo mới
Tại phiên họp thứ 3 Đại hội đại biểu nhân dân
toàn quốc khóa 11 khai mạc ngày 5.3.2010, ông Ôn Gia Bảo thừa nhận cơ chế quản
lý còn tồn tại rất nhiều vấn đề, bao gồm việc chính quyền can thiệp quá nhiều
vào nền kinh tế vi mô, quản lý xã hội và phục vụ cộng đồng còn yếu; ý thức tuân
thủ pháp luật của một số cán bộ còn rất kém; một số lãnh đạo xa rời quần chúng,
xa rời hiện thực, hình thức chủ nghĩa, quan liêu trầm trọng; nhiều tệ nạn hủ bại
xảy ra trong một số lĩnh vực.
Để có được “chiếc áo mới” như ý muốn, ông Ôn Gia
Bảo trước mắt đã đưa ra 5 phương pháp: thúc đẩy xây dựng chính quyền theo kiểu
phục vụ, duy trì xã hội công bằng; coi trọng hơn việc phục vụ quần chúng và quản
lý xã hội; thúc đẩy cải cách thể chế quản lý xã hội và sáng tạo cái mới, điều
chỉnh hợp lý quan hệ lợi ích xã hội; nỗ lực nâng cao lòng tin của dân chúng;
khoa học hóa, dân chủ hóa quyết sách và đẩy nhanh xây dựng hệ thống thực thi,
giám sát lẫn nhau, cùng điều chỉnh cơ chế vận hành hành chính; phải coi trọng
việc dẹp bỏ các tệ nạn hủ bại.
Ông Vu Phối - Giám đốc Phòng nghiên cứu Sử thế
giới thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc - nhận xét, việc đề ra 5 phương pháp
trên khiến việc cải cách chính trị được cụ thể hóa, trực tiếp đối diện với vấn
đề mà dân chúng quan tâm như thay đổi thể chế doanh nghiệp, thu hồi và đền bù
đất đai, bảo vệ môi trường, tranh chấp về lao động, khiếu kiện của dân, an toàn
sản xuất, vệ sinh an toàn thực phẩm... Ông Vu kết luận: “Mục tiêu cải cách cần
nhắm đúng vào những vấn đề thiết thực mà dân chúng quan tâm, mới có thể bảo đảm
quan hệ hòa hợp giữa chính quyền và người dân”.
Thủ tướng Ôn Gia Bảo cũng tuyên bố cần đảm bảo
quyền của người dân, đặc biệt là quyền bầu cử, quyền được biết thông tin, quyền
tham gia, quyền diễn đạt, quyền giám sát. Đồng thời, báo cáo tại phiên họp thứ 3
Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa 11 cũng nêu rõ, cán bộ lãnh đạo - đặc
biệt là cán bộ cấp cao - cần thực hiện những quy định quan trọng như báo cáo tài
sản và kinh tế cá nhân, bao gồm thu nhập, nhà ở, đầu tư cùng công việc của vợ
con; tự giác phối hợp, chấp thuận sự kiểm soát của các ban thẩm tra. Ông Tôn
Đoạn Nghiệp - Phó ban Giám sát tỉnh Sơn Đông cho rằng, từ nay về sau người dân
Trung Quốc sẽ tích cực đẩy mạnh việc giám sát trên cơ sở lời hứa “tạo điều kiện”
để dân phê bình, giám sát chính quyền. Điều này hứa hẹn nhiều hình thức mới mẻ
về giám sát dân chủ sẽ xuất hiện tại đại lục.
điều cần là chất lượng tín dụng, chứ không phải con số tăng trưởng nhiều hay ít
(TBKTSG) - Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang ngày càng tỏ rõ quyết tâm
trong việc thực hiện chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng 12% cho năm 2013, khi
các văn bản chỉ đạo, điều hành liên quan đến vấn đề này mỗi ngày một
“nặng ký” hơn.
Hồi đầu năm, con số 12% chỉ có ý nghĩa định hướng. Rồi cách nay hơn nửa
tháng, trong báo cáo sơ kết sáu tháng đầu năm, chỉ tiêu định hướng đó
đã được NHNN nâng lên thành “phấn đấu tăng trưởng tín dụng 12%”. Và, đến
ngày 18-7 vừa qua, Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình đã ban hành Chỉ thị
03, trong đó yêu cầu các tổ chức tín dụng “thực hiện các giải pháp mở
rộng tín dụng có hiệu quả để đạt tốc độ tăng trưởng tín dụng toàn hệ
thống ở mức 12%...”.Theo quan điểm của NHNN, làm tốt mục tiêu tăng trưởng tín dụng (12%) mới mong bảo đảm kinh tế phát triển 5-5,5%. Nhưng nhu cầu tín dụng lại không phụ thuộc vào các mong muốn chủ quan, mà tùy vào sức khỏe của nền kinh tế, cụ thể hơn là sức khỏe của doanh nghiệp. Nếu các doanh nghiệp quá ốm yếu, không đủ sức hấp thu thêm vốn, nhưng NHNN vẫn quyết tâm phải tăng được mức tăng trưởng tín dụng, thì e là không ổn.
Trong sáu tháng đầu năm nay, tăng trưởng tín dụng của Việt Nam chỉ đạt 4,5%, bất kể lãi suất cho vay đã lùi về quanh mức 10-12%/năm. Đồng thời, nhiều ngân hàng và tổ chức tài chính thậm chí phải cho nhân viên gọi điện thoại, xuống đường phát tờ rơi để mời người vay vốn với thủ tục rất đơn giản và thuận lợi. Điều đó cho thấy, lực cầu tín dụng của cả doanh nghiệp và người dân đang rất yếu.
Bình luận về mục tiêu tăng trưởng tín dụng của NHNN cho năm nay, một số chuyên gia kinh tế cho rằng về mặt kỹ thuật thì chỉ tiêu 12% hay 15% không khó thực hiện. Nhưng với khả năng hấp thu vốn của nền kinh tế rất yếu như hiện nay cũng như dự báo về khả năng cải thiện trong những tháng cuối năm, thực hiện chỉ tiêu trên là rất khó.
Hai chữ “kỹ thuật” mà các chuyên gia kinh tế nhắc tới cũng chính là điều họ không mong muốn. Hiện nay, Chính phủ đang trở thành khách hàng lớn của các tổ chức tín dụng. Chỉ cần Chính phủ tăng cường đầu tư, chi tiêu hoặc nới lỏng việc kiểm soát đầu tư cho khối doanh nghiệp nhà nước, cho lĩnh vực đầu tư chứng khoán, bất động sản thì chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng 12%, thậm chí là 20%, cũng dễ dàng. Nhưng nếu số tín dụng tăng thêm đó không được sử dụng hiệu quả, lại chảy vào những lĩnh vực có nguy cơ “bong bóng”, vào những dự án kém hiệu quả, thì sẽ là mối nguy cho cả nền kinh tế.
Thiết nghĩ, với vai trò và trách nhiệm của mình, vấn đề NHNN cần quan tâm không phải ở con số phần trăm tăng trưởng tín dụng. Điều cả nền kinh tế kỳ vọng ở NHNN là năng lực quản lý rủi ro để bảo đảm hệ thống tài chính, ngân hàng hoạt động một cách lành mạnh, an toàn và hiệu quả; có thể đưa ra quyết định điều hành để có thể hóa giải kịp thời những nguy cơ, tháo gỡ nhanh chóng những nút thắt cho nền kinh tế, để doanh nghiệp yên tâm làm ăn, để nền kinh tế phát triển bền vững.
Vấn đề NHNN cần ưu tiên giải quyết hiện nay vẫn là nợ xấu trong các ngân hàng và điều cần là một kết quả thực chất, chứ không phải kết quả đến từ những biện pháp “kỹ thuật”.
Một khi NHNN đã làm tốt vai trò của mình, thì hãy cứ để con số tăng trưởng tín dụng cho thị trường tự điều chỉnh. Vì cho dù mức tăng trưởng tín dụng cao, nhưng nếu tất cả số vốn đó đều chảy vào những kênh đầu tư an toàn và có hiệu quả cho nền kinh tế, thì chẳng có gì phải lo ngại. Ngược lại, cho dù tăng ít, nhưng lại tăng vào các lĩnh vực có nguy cơ “bong bóng”, vào những dự án kém hiệu quả, thì rất nguy hiểm.
Suy cho cùng, điều cần là chất lượng tín dụng, chứ không phải con số tăng trưởng nhiều hay ít.http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/goctoasoan/99897/Chat-luong-tin-dung-moi-quan-trong!.html
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)